TẦM QUAN TRỌNG CỦA TIẾNG ANH HÀNG HẢI TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN, KHAI THÁC MÁY TÀU BIỂN, KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN VÀ CÁC NGÀNH KỸ THUẬT HÀNG HẢI CHỦ LỰC KHÁC

Có thể thấy ngành vận tải biển đang thực sự hồi phục sau giai đoạn ngắt quãng liên tục do đại dịch COVID-19 . Điều này được chứng minh qua sự bùng nổ đơn đặt hàng đóng tàu của các công ty vận tải biển lớn trong và ngoài nước. Khi giá cước vận tải biển tăng cao, các công ty tàu biển liên tục mở rộng đội tàu biển của mình, thì cũng có nghĩa là sự thiếu hụt đội ngũ thuyền viên ngày càng lớn.

Để đáp ứng yêu cầu này, Trường Cao đẳng Hàng Hải II xác định rõ nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện của nhà trường là cung cấp cho thị trường lao động một đội ngũ thuyền viên chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế, góp phần phát triển kinh tế xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Và thực tế trong nhiều năm qua, nhà trường đã thực hiện xuất sắc vai trò này của mình với xã hội.

Trong quá trình hội nhập quốc tế của ngành hàng hải, chúng ta có thể thấy rõ là tiếng Anh hàng hải đã và đang đóng một vai trò quan trọng xuyên suốt và ngày càng phát huy thế mạnh ứng dụng trong thực tế nghề nghiệp. Nhà trường rất tự hào vì đã cung cấp cho thị trường lao động nhiều sĩ quan, thuyền viên có tay nghề cao, khả năng tiếng Anh tốt đáp ứng được yêu cầu khắt khe của nghề nghiệp. Những sĩ quan, thuyền viên có trình độ tiếng Anh tốt thường có thu nhập trong công việc cao hơn, nhiều thuận lợi để thăng tiến trong nghề nghiệp.

Việc giảng dạy tiếng Anh hàng hải là thế mạnh của Bộ môn Ngoại ngữ, khoa Cơ Bản, Trường Cao đẳng Hàng Hải II. Trong phạm vi bài viết này, người viết muốn giúp cho những ai quan tâm đến nghề đi biển một cái nhìn tổng quát, cũng như tầm quan trọng và lợi ích thật sự của tiếng Anh hàng hải.

Một câu hỏi được đặt ra là tiếng Anh hàng hởi có gì khác biệt với tiếng Anh thông thường? Tại sao cần phởi học tiếng Anh hàng hởi.

Những người đi biển xem tiếng Anh là ngôn ngữ của biển cả (Language of the sea) bởi tính đặc thù của nó. Tiếng Anh trong thông tin liên lạc trên biển đóng một vai trò quan trọng, dù cho nó được thực hiện giữa tàu và bờ, giữa bờ và tàu hoặc chỉ là những cuộc trao đổi liên lạc thông thường trong nội bộ tàu.

Ngành hàng hải mang tính quốc tế, nó không phụ thuộc hay bị ràng buộc bởi một quốc gia hay một khu vực cụ thể nào. Thực tế là có tàu mang cờ một quốc gia nào đó, thuyền trưởng đến từ một quốc gia khác, trong khi thuyền viên trên tàu lại có 7 đến 8 quốc tịch khác nhau. Có thể thấy, khi các thuyền viên nói các ngôn ngữ khác nhau sẽ dẫn đến một số nhầm lẫn về các ý nghĩa của các cụm từ mà họ muốn truyền đạt. Sự mơ hồ, nhầm lẫn, hiểu nhầm là nguyên nhân chính gây ra tai nạn và các sự cố không đáng trên tàu. Không có một ngôn ngữ chung, các tàu sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc thông qua các mệnh lệnh, hướng dẫn , thực hiện công việc giữa các sĩ quan và thuyền viên trên tàu.

Cũng chính từ những lý do này, tại hội nghị lần thứ 22 tổ chức vào tháng 11, năm 2001, Tổ chức hàng hải thế giới (IMO) đã chấp nhận đưa vào sử dụng tiếng Anh hàng hải (Maritime English), còn được biết đến là các thành ngữ thông tin liên lạc hàng hải theo tiêu chuẩn (Standard Maritime Communication Phrases- SMCP) , thay thế cho SMNV (Standard Marine Navigational Vocabulary, adopted 1977, bổ sung, chỉnh sửa năm 1985). SMCP được biên soạn dựa trên những kiến thức cơ bản của tiếng Anh hàng ngày, trong đó việc tập hợp những thuật ngữ hàng hải nhất định giúp loại bỏ khả năng gây ra nhầm lẫn về mặt ý nghĩa, giảm thiểu được nguy hiểm xảy ra cho tàu, thuyền viên, đặc biệt là cho môi trường biển.

Dưới đây là những ví dụ cho thấy tính ứng dụng cao, hiệu quả cao nhưng rất thú vị và dễ sử dụng của SMCP.

Những cụm từ phổ biến và các ví dụ của tiếng Anh Hàng hải

Một trong những cum từ phổ biến được sử dụng trên biển là “Say again”. Cụm từ này cho thấy người nhận không thể hiểu bản tin, cần người nói lặp lại bản tin hoặc câu nói đó. Thay vì sử dụng những câu dài dòng, lê thê như “I could not hear you” ( tôi không nghe rõ) hoặc “Please repeat yourself” (anh hãy lặp lại), thì việc sử dụng cụm từ gồm hai từ ngắn gọn “Say again”, giúp đi thẳng vào ý nghĩa muốn truyền đạt. Cụm từ này cũng có ít khả năng bị hiểu nhầm hoặc nghe nhầm hơn.

Các cụm từ phổ biến khác cũng thường sử dụng là các tiêu đề bản tin (message markers) mang tên “Question” (Hỏi), “ Answer” (Đáp). Thay vì đặt câu hỏi bằng các cụm từ như ” Should I…” ” May I…”, thì người nói sử dụng tiêu đề “Question” đứng trước câu nghi vấn của mình .

Điều này nói lên ý định của người nói và giúp cho người nghe hiểu rằng anh ta có một câu muốn hỏi. Để đáp lại, người nghe sử dụng thuật ngữ “ Answer” trước khi trả lời câu hỏi, điều này giúp cho người hỏi biết rằng câu hỏi của anh ta sẽ được giải quyết. Do đó, sử dụng các thuật ngữ trên làm chủ đề sẽ giúp cho sự mơ hồ về tính chất của cuộc trao đổi được loại bỏ.

Trong trường hợp xảy ra tai nạn hoặc sự cố nào đó các câu như ” I am in trouble” (Tôi gặp sự cố) hoặc ” I need helps” ( tôi cần giúp đỡ) rất dễ bị hiểu nhầm, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết xấu, khả năng phát sóng kém.

Thay vào đó sử dụng câu nói “ I require assistance” sẽ đảm bảo khả năng bản tin sẽ không bị mất hoặc hiểu nhầm.

Ngoài ra, các tín hiệu báo nạn được sử dụng tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của sự cố, tai nạn. Các cụm từ “ Mayday-Mayday-Mayday, Pan-Pan­-Pan-Pan-Pan-Pan Security- Security-Security” được dùng để xác định các dạng thông tin sự cố, tai nạn. Mỗi sự cố khác nhau về mức độ nghiêm trọng, trong đó “Mayday” được áp dụng cho các sự cố có mức độ nghiêm trọng cao nhất, như khả năng một chiếc tàu có nguy cơ bị chìm rất cao. “ PanPan” thì tính chất sự cố ít nghiêm trọng hơn, chẳng hạn tàu đang gặp phải sự cố kỹ thuật nào đó, cần được sự hỗ trợ từ các trạm tàu hoặc bờ trước khi tai nạn nghiêm trọng có thể xảy ra.

Ví dụ khác: “Possible piracy attack. Location… heading…I require immediate assistance. What is ETA of backup?” (Cuộc tấn công cướp biển có thể xảy ra. Vị trí… hướng… tàu tôi yêu cầu hỗ trợ ngay lập tức. Giờ dự kiến hỗ trợ cho chúng tôi?).

Có thể thấy bằng cách sử dụng các thuật ngữ để thông báo mối nguy hiểm ngay lập tức và yêu cầu về thời gian hỗ trợ, người nói đã phát đi một số lượng thông tin quan trọng cần thiết chỉ bằng 3 cụm từ ngắn gọn. Ngoài ra, việc thông báo về hướng, vị trí. có thể giúp cho lực lượng hỗ trợ (quân đội, tàu chiến) đến khu vực tàu bị nguy hiểm ngăn chặn cuộc tấn công cướp biển.

Ngoài ra, SMCP còn đề cao tính đơn giản, ngắn gọn trong giao tiếp theo nguyên tắc KISS (Keep It Short and Simple) . Các từ chức năng (function words) như “a/an/ the/ is/are” có thể bỏ đi, giúp cho câu nói ngắn gọn hơn khi diễn đạt mà không làm thay đổi nội dung ý nghĩa của nó. Tuy nhiên người sử dụng có thể linh hoạt sử dụng trong từng tình huống.

Ví dụ:

– Do you have an automatic pilot? (có sử dụng mạo từ a/an)

( Tàu anh có máy lái tự động không?)

  • Is there danger of explosion? (không sử dụng mạo từ a/an)

( Tàu có nguy cơ bị nổ không?)

  • Embarkation not posible (không sử dụng is/are)

(Hoa tiêu không thể lên tàu)

Tương tự, các bản tin chủ yếu nhấn mạnh đến nội dung cần thiết muốn gởi đến người nghe mà không quan tâm đến chủ thể thực hiện.

  • Warning: Navigate with caution. Iceberg ahead.

(Cảnh báo: Hành trình cẩn thận. Phía trước có băng trôi)

  • Request: Dispatch pilot immediately!

(Yêu cầu: bố trí hoa tiêu ra tàu ngay lập tức!)

Theo thống kê có đến 80% các sự cố ngoài biển là do sự giao tiếp kém của con người chứ không phải là do bất cứ lý do kỹ thuật  nào khác. Theo công ước quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ và trực ca cho thuyền viên 1978, khả năng hiểu biết, sử dụng SMCP là yêu cầu để cấp giấy chứng nhận cho sĩ quan trực ca trên tàu biển có dung tích từ 500 GT trở lên.

“Các vùng biển trở nên an toàn hơn, nếu tiếng mẹ đẻ của các sĩ quan được chứng nhận thành thạo SMCP”. Lời kết trên đã cho thấy giá trị thực sự của tiếng Anh hàng hải.

Tiếng Anh hàng hải chưa bao giờ là sự thách thức đối với những người mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ (non- English Speakers). Vì thế nếu thực sự quyết tâm thì việc đạt được khả năng tiếng Anh đáp ứng tốt trong nghề nghiệp luôn ở trong tầm tay của người học.

 

Nguyễn Thị Hồng Nhung (Khoa Cơ bản)