Phát triển Giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập ASEAN

Tiếp tục đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước và hội nhập khu vực ASEAN, quốc tế, nhu cầu về lao động kỹ thuật, đặc biệt là lao động trình độ cao cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành trọng điểm, vùng kinh tế động lực, đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Bởi quá trình CNH – HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đạt được các mục tiêu cũng như giải quyết được các thách thức:

– Tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
– Đẩy nhanh quá trình đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, mở rộng các khu công nghiệp, khu chế xuất, đảm bảo để nước ta trở thành một nước có trình độ kĩ thuật, công nghệ tiên tiến so với các nước trong khu vực.
– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP, đồng thời điều chỉnh cơ cấu lao động.
– Tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, nâng tỷ lệ lao động kỹ thuật có trình độ cao.
– Tăng cường hội nhập, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhất là với những nước thành công trong phát triển đào tạo nghề ở khu vực ASEAN và trên thế giới. Hợp tác với các nước ASEAN để tiến tới công nhận kỹ năng nghề giữa các nước, hướng tới Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, tích cực tham gia vào các hoạt động của khu vực và thế giới để giao lưu và học hỏi kinh nghiệm…
Để giải quyết các thách thức trên trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Giáo dục nghề nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015. Luật được thông qua với nhiều nội dung đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập ASEAN, như thống nhất ba cấp trình độ là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; đổi mới tổ chức quản lý, đào tạo theo hướng đào tạo theo niên chế, tích lũy mô đun, tích lũy tín chỉ; đổi mới về thời gian đào tạo cho phù hợp với nhu cầu và khả năng của người học, trong đó thời gian đào tạo trung cấp đối với những người tốt nghiệp Trung học cơ sở còn từ 1 đến 2 năm tập trung vào kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được xây dựng và phát triển chương trình đào tạo; đối với sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng sẽ được cấp bằng cao đẳng và kèm theo danh hiệu kỹ sư thực hành hoặc cử nhân thực hành tùy vào ngành nghề đào tạo; đổi mới chính sách với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, không phân biệt công lập và tư thục, đều được tham gia đấu thầu đặt hang đào tạo, tham gia vay vốn ưu đãi các chương trình dự án trong và ngoài nước, tham gia bồi dưỡng nhà giáo cán bộ quản lý trong và ngoài nước bằng kinh phí từ ngân sách Nhà nước; tăng cường các chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút người học; quy định rõ các chức danh đối với nhà giáo trong từng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chính sách tôn vinh,  kéo dài thời gian làm việc với những nhà giáo có trình độ, học hàm học vị, có tay nghề cao, phụ cấp ưu đãi đối với Nhà giáo giảng dạy tích hợp cả lý thuyết và thực hành; xác định vai trò, vị trí, nhiệm vụ và đặc biệt là quyền lợi của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp… Những quy định mới của Luật Giáo dục nghề nghiệp, tạo cơ hội cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tự chủ, năng động, tổ chức đào tạo linh hoạt trên cơ sở gắn kết với doanh nghiệp để đào tạo nguồn nhân lực ở các trình độ khác nhau theo các phương thức linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, nhất là nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành trọng điểm, vùng kinh tế động lực và hội nhập khu vực ASEAN và quốc tế.
Trong thời gian tới, phát triển giáo dục nghề nghiệp nhằm:
– Phục vụ các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội; góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm mới và tự tạo việc làm cho người lao động; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và nguyện vọng học tập suốt đời của người lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế.
– Phát triển hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với ba cấp trình độ (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng), liên thông giữa các trình độ đào tạo và các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân.
– Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo thì phải hết sức coi trọng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, xây dựng hệ thống trường chất lượng cao, tiếp cận trình độ đào tạo khu vực và quốc tế.
– Thực hiện xã hội hoá đào tạo, thu hút mọi nguồn lực trong nước và hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực của hệ thống; đa dạng hoá các loại hình cơ sở và phương thức đào tạo.
Với các mục tiêu và giải pháp:
– Mục tiêu: chú trọng đào tạo theo cầu của thị trường lao động; tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo; tập trung đào tạo trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập ASEAN, quốc tế; phân luồng đào tạo và phổ cập giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên; Phấn đấu vượt chỉ tiêu lao động qua đào tạo theo Nghị quyết của Đảng; Đào tạo cho khoảng 2 triệu người /năm, trong đó trình độ trung cấp, cao đẳng chiếm khoảng 30-40%; phấn đấu khoảng 80% số người qua đào tạo có việc làm ; Đến năm 2020, tiếp tục xây dựng các trường chất lượng cao tiếp cận trình độ quốc tế, khu vực ASEAN, đào tạo các nghề trọng điểm được các nước trong khu vực ASEAN và thế giới công nhận.
– Các giải pháp chủ yếu về phát triển giáo dục nghề nghiệp:
+ Phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng đa dạng, linh hoạt, gắn với quy hoạch của các ngành; vùng kinh tế, địa phương, khu công nghiệp, khu chế xuất; khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập góp phần tăng nhanh về quy mô, số lượng lao động qua đào tạo.
+ Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp đồng bộ để giáo dục nghề nghiệp phát triển.
+ Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu mới.
+ Tập trung nguồn lực, phối hợp với các Bộ, ngành,địa phương, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng và phát triển khung trình độ, chương trình đào tạo đa dạng, linh hoạt.
+ Tăng cường kiểm định chất lượng cơ sở và các chương trình đào tạo, đảm bảo hoạt động đào tạo đáp ứng yêu cầu chuẩn quốc gia,khu vực và thế giới; đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho người lao động.
+ Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp, huy động mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển; khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và các cá nhân đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp.
Thực hiện các định hướng phát triển với hệ thống giải pháp đồng bộ mà trên đây là các giải pháp cơ bản, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của nước ta sẽ đào tạo được nguồn nhân lực có quy mô hợp lý, có chất lượng, đặc biệt nguồn nhân lực đòi hỏi kiến thức, kỹ năng trình độ cao góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân lực của nước nhà trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập ASEAN, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế./.
 PGS.TS Cao Văn Sâm
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề
Theo trang tin điện tử của Tổng cục dạy nghề