GIẢI PHÁP NGUỒN NHÂN LỰC THUYỀN VIÊN CHO THỜI HẬU COVID

Thực tiễn hiện nay

Cái hiện thực của ngành hàng hải hiện nay là nguồn nhân lực cho nghề đi biển ngày càng giảm rất mạnh. Thông qua bài viết vắn tắt này, tôi mong muốn các bạn trẻ hãy mạnh dạn tự tin chọn cho mình nghề phù hợp, đó là nghề đi biển. Khi nhắc đến nghề đi biển ai cũng biết là một nghề khó khăn nặng nhọc, vất vả, phải xa gia đình bạn bè người thân, luôn đối mặt với những rủi ro, hiểm họa từ cướp biển đến thiên nhiên đang rình rập. Chỉ cần một chút bất cẩn là các anh phải trả giá cả bằng sự sống,..Bên cạnh những khó khăn nặng nhọc như đã nói ở trên thì nghề đi biển cũng có những niềm vui và thú vị riêng mà không một nghề nào có được.

Hiện nay, trước đại dịch Covid xuất hiện ngành Hàng hải cũng chịu nhiều ảnh hưởng cũng như bao ngành nghề khác trên toàn Thế giới, đặc biệt là từ việc khủng hoảng kinh tế toàn cầu với những cuộc chiến thương mại giữa các cường quốc kinh tế trên Thế giới, như cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, nó làm sản lượng hàng hóa vận chuyển trên Thế giới giảm xuống một cách trầm trọng. Nhưng không vì thế mà trọng tải của đội tàu trên Thế giới giảm bằng chứng là thống kê của UNTAD năm 2020 như sau:

Dưới đây là bảng thống kê báo cáo của UNTAD năm 2020 về top 15 quốc gia có đội tàu hùng mạnh trên thế giới (*)

World fleet data 2015 2016 2017 2018 2019 2020
000′ DWT 1,735,522 1,794,029 1,850,606 1,920,052 1,970,554 2,051,019
Number of ships 48,459 49,445 50,090 51,480 52,162 52,961
Average ship’s size DWT 35,814 36,283 36,946 37,297 37,778 38,727
Cotrolled fleet by top 15 countries 78.84% 80.79% 79.64% 81.11% 81.30% 81.22%

In 2020  top 15 countries by controled DWT was : Greece, Japan, China, Singapore ,China –  Hong Kong SAR, Germany, Republic of Korea, Norway, United States of America, Bermuda, France, Taiwan (province of China), United Kingdom, Monaco, Denmark.

Trên đây là số liệu phân loại tàu trên Thế giới phát triển trong vòng 5 năm (*)

Ship Type Number of ships 2019 Growth (5y) %
General Cargo Ships 16013 -1%
Specialized Cargo Ships 306 15%
Container Ships 5278 4%
Ro-Ro Cargo Ships 1469 -1%
Bulk Carriers 12294 12%
Oil and Chemical Tankers 13975 13%
Gas Tankers 2048 20%
Other Tankers 1114 31%
Passenger Ships 7492 13%
Offshore Vessels 8353 4%
Service Ships 5580 16%
Tugs 18881 13%

 

                                                (*)Trích từ nguồn http://infomaritime.eu/

Thống kê mức lương tối thiểu của thuyền viên khi gia nhập ITF tháng 01 năm 2021 (**)

No Ranks Total USD Income Remarks
1 Master 3,793  
2 C/E 3,447  
3 C/O 2,449  
4 1St Eng 2,449  
5 2nd O 1,961  
6 2nd O 1,961  
7 3rd O 1,890  
8 3rd Eng 1,890  
9 RO 1,961  
10 Elec Eng 1,961  
11 Ch/Cook 1,961  
12 Bosun 1,258  
13 Pumpman 1,258  
14 AB/ERR 1,126  
15 OS 938  

 (**)Trích từ nguồn https://www.itfseafarers.org/en/resources/materials/ilo-minimum-wage-jan-2021-consolidate-interpretation

 

Từ các nguồn thống kê trên, cho thấy rằng trên Thế giới hiện nay rất cần nguồn nhân lực có chất lượng cho ngành công nghiệp Hàng hải là rất lớn, với mức lương tối thiểu của thuyền viên khi làm việc các đội tàu đã gia nhập ITF cũng khá cao so với lương mặt bằng của những ngành nghề khác trên bờ ở Việt Nam.

Với tình hình Thế giới sau khi đại dịch Covid qua đi, các ngành công nghiệp sẽ phục hồi nhanh chóng, lượng hàng hóa trên Thế giới cần vận chuyển là rất lớn. Theo xu thế các đội tàu trên Thế giới cũng phát triển không ngừng. Do đó, ngành Hàng hải đòi hỏi sẽ cần một nguồn lao động cung cấp cho thị trường lao động trong và ngoài nước là vô cùng rất lớn.

Vậy chúng ta cần làm gì để đoán đầu xu thế phát triển của Thế giới, đặc biệt là giải pháp cung cấp lao động có chất cao cho ngành công nghiệp Hàng hải nói chung và thuyền viên lao động trên các tàu nước ngoài nói riêng.

Để có những thuyền viên có chất lượng cao, ngoài tiêu chuẩn của STCW – 2010, chúng ta cần bổ sung cụ thể như: Sức khỏe; đạo đức nghề nghiệp (bao gồm ý thức, thái độ làm việc,…tiêu chí này rất quan trọng); Trình độ ngoại ngữ tiếng Anh; Kỹ năng thực hành của thuyền viên sau khi tốt nghiệp ở các trường hàng hải,..

Từ những kỹ năng trên, các trường hàng hải cần mạnh dạn đổi mới chương trình Đào tạo, nâng cao kỹ năng thực hành, bên cạnh đó cần tăng cường luyện kỹ năng nghe, nói ngoại ngữ cho sinh viên hàng hải.Tăng cường hợp tác giao lưu sinh viên giữa các trường trong và ngoài nước.

Ngoài ra, nhà trường cần làm tốt các khâu như: tuyển sinh; Đào tạo và giới thiệu việc làm.

Vậy chúng ta làm gì để tuyển sinh được học viên vào các trường Hàng hải trong thời kỳ hiện nay, trong khi trên bờ có nhiều ngành nghề để chọn lựa.

Giải pháp

 Các Trường cần lập kênh liên lạc mật thiết giữa nhà trường với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, để tạo điều kiện đầu ra cho sinh viên có việc làm.

Bên cạnh đó, Nhà trường thiết lập cầu nối giữa các trung tâm giáo dục thường xuyên, Sở lao động Thương binh & Xã hội ở các tỉnh thành trong cả nước, đó là nguồn nhân lực dồi dào cho ngành Hàng hải.

Nhà trường cũng cần tăng cường giảng dạy một số môn chuyên ngành bằng ngôn ngữ tiếng Anh, mục tiêu ban đầu giảng dạy là 10% bằng tiếng Anh, từng bước nâng dần tỉ lệ phần trăm giảng dạy bằng tiếng Anh lên.

Ngoài ra, các ngành chức năng có liên quan có chính sách hỗ trợ cho đội ngũ Giảng viên hợp lý, từng bước nâng cao đời sống vật chất cho đội ngũ Giảng viên, để họ an tâm cống hiến sức lực cho nghề hàng hải ở Việt Nam nói chúng và thế giới nói riêng.

Tóm lại

Trên đây là một số giải pháp vĩ mô để phát triển nguồn nhân lực Hàng hải trong thời kỳ hậu Covid.

                                                                          KHOA ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN